Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ với lời bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ với lời bình. Hiển thị tất cả bài đăng

21 thg 2, 2013

Viết cho Giọt Tàn Thu

Giới thiệu Lời Dẫn và bài thơ 
 Giọt Tàn Thu của tác giả Phieuvan_Thlangdu 

 "Những chiếc lá tàn thu hiu hắt võ vàng mùa phai rụng; giòng sông vẫn muôn đời xuôi về phía biển… Mùa đến mùa đi, vòng nhật nguyệt muôn đời luân chuyển như là một tất nhiên, tất nhiên đến vô tình. Mùa chớm sang đông, ngọn heo may the thắt cõi lòng; giòng sông thu vẫn vô tình xiết chảy để tình thơ hoài vọng, suy tưởng phía bờ bên kia mùa thu… liệu có còn chăng những cánh hạ hồng? 

 Giòng thời gian vẫn vô tình đều chảy, những cánh hạ hồng đã xa tắp một mùa xa. Trăng vô tình tỏa sáng đôi bờ huyễn ảo; gió vô tình lướt qua đôi bờ chia cách; tiếng đàn bầu vô tình vẳng vọng… Những vô tình đến khắc khoải nỗi niềm thơ... Và ta băn khoăn tự hỏi: Có lẽ nào… Vâng, có lẽ nào phía bên kia quầng thu mong manh ấy giọt đàn bầu cũng cảm được cái lạnh vào đông!? Có lẽ nào!??"


     Chỉ là một thoáng xao lòng với Giọt tàn thu thôi ư ? Tình cờ đọc Giọt tàn thu lần đầu vào một đêm trăng . Không phải là một đêm trăng tròn . Chỉ có nửa trăng thôi , một nửa trăng với một quầng sáng mỏng mảnh ... Và ngay lập tức cái quầng sáng mỏng mảnh ấy lại như một sợi tơ sáng trắng , mềm mại vắt ngang cánh tay trần tựa trên khung cửa sổ . Lạnh , hơi lạnh cứ như hơi sương . Rồi từ ấy quầng thu giăng mắc , giăng mắc đầy lòng... 

 "Mùa phai vàng 
 Trăng có biết chăng 
 bờ bên kia vẫn là quầng thu muộn " 

      Mùa phai vàng , có phải đó là tiếng thời gian ? Con người đi qua thời gian , qua tuổi thơ mật ngọt , qua tuổi dại khờ , qua thời trẻ trung để rồi đến một mùa vàng phai lá . Chững chạc rồi , trải nghiệm nhiều rồi , chẳng còn ngồi đan mơ ước , dệt mộng ảo , chỉ còn lại lời thầm thì , lời thầm thì cùng trăng vì chẳng biết nói cùng ai : 

"Trăng có biết chăng ... 
bờ bên kia vẫn là quầng thu muộn " 

      Bờ bên kia , bờ bên này ... Hai bên bờ chung một khoảng cách buồn tênh . Đôi bờ vẫn dõi mắt trông nhau ... Bờ bên đó vẫn là quầng thu muộn . Dường như chưa có ai bảo là trên đời này có một thứ gọi là ... quầng thu đâu nhỉ , mà lại là quầng thu muộn ! Cái vệt sáng của mùa thu - cái mùa đứng thứ ba trong hành trình của một đời người . Tuổi đà chớm thu rồi . Chớm thu đã gọi là muộn chưa ? Muộn rồi ư , muộn mà ... vẫn còn yêu ? Vẫn còn ... yêu được ? Quầng thu - cái hình ảnh mơ mơ hồ hồ , cái ảo ảnh lấp lửng đầy ngụ ý ? Quầng thu là cái vệt sáng lung linh của tình yêu ? Cái quầng thu nhẹ như không ấy vẫn còn đủ sức làm con tim say vì một ánh nhìn sâu lắng , ... vẫn đủ sức khiến trăng lung linh , ... vẫn đủ sức làm ai đó nghiêng chao ? Và quầng thu muộn - có phải là một chút tình muộn màng , một cuộc tình đã lỡ ? 

 " Xác lá bay 
 Sầu thu giăng khắp hướng 
 Chút tình thơ trĩu nặng nỗi chờ mong " 

     Thu và trăng ... Tình thu sâu lắng , lặng lẽ chồng lớp với thời gian . Tình trăng vời vợi , vời vợi cả trong chút hững hờ . Ai đã từng ngồi hàng giờ để ngắm những chiếc lá vàng rơi , để thẫn thờ nhìn xác lá xô nhau theo chiều của cơn gió vô tình ? Có mấy ai nhìn xác lá bay mà không nghe lòng  chùng lại ? Không có hình ảnh nào vừa nên thơ vừa dẫn dắt tâm trạng rơi vào nỗi buồn nhanh như xác lá úa màu bay tan tác , kín đáo thầm thì lời thú nhận :" sầu thu giăng khắp hướng " . Để nghe lòng thu trĩu nặng , trĩu nặng vì vẫn đau đáu chờ mong ! Bờ bên này ... cứ nhớ bờ bên kia . Chỉ vì chút tình thơ ... chỉ vì chút luyến lưu đã giăng khắp nẻo trần ai . Thoáng heo may vừa về ngang đó . Sầu đã giăng , lòng hẳn là trở lạnh . Thu lãng du và tình yêu xưa vẹn nguyên và u tịch như một lời kinh cầu , ấp ủ tình thành một cảm xúc thiêng liêng , trân trọng tình đến bắt lòng khe khắt gìn giữ như giữ gìn một giáo điều ? Thu lãng du kín kẽ gửi khúc tâm tình , tràn khắc khoải , nặng chờ mong :

" Trở lạnh heo may 
 Lời kinh xưa khe khắt lòng 
 Bên kia mùa thu ... là quầng trăng vằng vặc ... 
 nẻo bến bờ trong vắt ... 
 một mùa xa "

     Lời kinh khe khắt ? Cõi lòng se sắt ? Trời trở lạnh rồi . Heo may hiu hắt . Bên kia mùa thu ... là mùa hạ mới vừa qua . Cái mùa của rời xa . Cái sắc màu của mùa hè đó có trên cây gạo đỏ rực màu hoa , rồi cho ra những quả bông trắng muốt và êm ái . Lòng đăm đắm nhớ một buổi trưa hè tràn nắng , nhớ một góc phố , một quán ăn , nhớ cả một khoảnh khắc vô tư chợt ngủ quên để bỗng dưng nhận ra quả bông đã hóa ra một chiếc gối gòn rất êm , rất êm ... Để đến mùa thu , có gió mùa hạ xoa dịu nỗi buồn , vỗ về bao nỗi nhọc nhằn . Bước sang mùa đông , có đốm lửa hồng mặc nhiên trở thành niềm an ủi dịu dàng sưởi ấm và tiếp thêm nghị lực cho một đôi vai mảnh mai . 
   Bên kia mùa thu ... Vẫn ấm áp hình ảnh của một "quầng trăng vằng vặc" , lóng lánh cái ánh sáng của lòng vị tha . Trong mắt thu , cái "nẻo bến bờ" ấy vẫn "trong vắt" , vẫn vẹn nguyên hương quế trầm xưa cũ , vẫn vẹn nguyên một chút thanh khiết đến nao lòng . Lặng lẽ dõi theo nhau những buồn vui , lặng lẽ gói cất một nụ hôn đáng ra phải rơi vào quên lãng ... Chớm hạ vàng năm ấy cũng đã lặng lẽ đánh dấu "một mùa xa" .Ta xa nhau , "liệu có còn chăng những cánh hạ hồng?"
  
"Có lẽ nào ta lại quên ta 
Quên cả bốn mùa thay lá 
Có lẽ nào xa lạ 
Lối chân xưa có giăng lạnh đường về ?"

    Ta có thể quên , có thể quên không nhỉ ? Ai có thể quên chính bản thân mình ? Ai có thể quên những kỷ niệm cháy lòng , quên đường quen , quê cũ ? Thu bâng quơ cất dấu lời trách nhẹ nhàng. Mỗi một câu hỏi "có lẽ nào" đều ẩn chứa sẵn mỗi câu xác nhận vô tình . Thảng thốt nỗi lòng , trầm lắng suy tư , buông tình trong hoài nhớ ... Bốn mùa nối tiếp trôi qua ... Có lẽ nào xa lạ ? Có bao nhiêu cái dõi mắt trông theo thì cũng có bằng ấy nỗi ơ hờ . Có biết nỗi ơ hờ ấy người ta dùng để quên đi mùa xuân , quên đi những ước ao , chỉ để được giữ lại những quan tâm rất đỗi bình thường , chỉ mong không trở thành xa lạ trong mắt nhau mà thôi ! Bởi đường về vừa thăm thẳm vừa dùng dằng . Lối cũ muốn đi , chùng chình sợ hứng lấy nỗi đau . Đường xưa muốn về , ngại ngần che khuất dấu chân chim . Ừ đấy , cứ ơ hờ đi nhé , thu ơ hờ , đông ỡm ờ . Mùa lại mùa cứ thế theo nhau , những vô tình cứ thế theo nhau ... Lối chân xưa rõ ràng là lối hoang mê . 

"Đêm …
Vô tình trăng … 
vô tình lối hoang mê… 
Vô tình gió ... 
giọt đàn bầu vô tình vẳng vọng"

    Trăng vô tình ư ? Gió vô tình ư ? Chiều hạ vàng của buổi chia xa ngày nào vẫn mãi đốt lòng nhau bằng những đốm lửa đỏ trên tàng phượng vỹ , đốm lửa trong hành trang của đời viễn xứ xa xôi , chút tình nhỏ nhoi riêng tư lẫn trong nỗi nhớ quê hương vời vợi . Mà bờ bên kia và bờ bên này , khoảng cách là chiều rộng của một đại dương mênh mông , là chiều cao của một thứ không hề nằm trong tầm với , là chiều sâu vô vọng của thánh thót giọt đàn bầu ! Ta vô tình , cứ vờ như đang vô tình , để nghe lẩn khuất trong gió , len nhẹ giọt đàn thâm trầm ấy. Nương theo cánh gió , giọt đàn bầu cứ loang xa , văng vẳng , vọng động lối hoang mê . Rồi chắt lọc , rồi lắng đọng thành một nỗi nhớ da diết lòng ... 

 "Có lẽ nào 
 Bên kia quầng thu mỏng 
 Giọt đàn bầu run rẩy lạnh tàn thu"

   Giọt tàn Thu rơi trong thu lạnh ! Mà bờ bên kia , cái quầng thu mỏng mảnh - cái chút tình mong manh - đang run rẩy theo cái lạnh của chớm đông bên này . Giọt đàn bầu chừng như cũng run rẩy theo . Ơi cái giọt đàn bầu run rẩy bờ bên ấy có lẽ nào lại vô tình đốt cháy lòng bờ bên đây ? 
    
Chỉ là một thoáng xao lòng với Giọt tàn thu thôi ư ?

Violet-KC viết 2/20/2013

2 thg 1, 2013

Tương Tư ( Nguyễn Bính )

 Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
 Một người chín nhớ mười mong một người
 Gió mưa là bệnh của giời
 Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

 Hai thôn chung lại một làng,
 Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
 Ngày qua ngày lại qua ngày
 Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

 Bảo rằng cách trở đò giang
 Không sang là chẳng đường sang đã đành
 Nhưng đây cách một đầu đình
 Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?

 Tương tư thức mấy đêm rồi
 Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?
 Bao giờ bến mới gặp đò
 Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

 Nhà em có một giàn giầu
 Nhà anh có một hàng cau liên phòng
 Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
 Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

 Hoàng Mai, 1939 (Rút từ tập Lỡ bước sang ngang - 1940)

 Lời bình TS. CHU VĂN SƠN

Tương tư là nỗi nhớ nhau của tình yêu đôi lứa. Nhưng trong cuộc đời, tương tư lại thường là nỗi nhớ đơn phương. Người này nhớ, mà đôi khi cứ ngỡ người kia vô tình lắm, chẳng hề biết, chẳng muốn biết rằng mình đang khổ sở vì tương tư. Thực tình, nhớ là hiện thân của yêu: một tâm hồn đang nhớ là một trái tim đang yêu; một tâm hồn ngừng nhớ là dấu hiệu chắc chắn của một trái tim đã ngừng yêu. Cho nên có kẻ nào yêu mà chẳng từng tương tư. Nguyễn Bính cũng thế! Chàng trai chân quê này tương tư và đã trải đến tận cùng những cung bậc tương tư, nói khác đi, là đã bị mọi cung bậc của tương tư dày vò đến khổ sở. Yêu nhau, mà xa nhau, tất sẽ nảy sinh nhung nhớ. Nhớ nhung, thực chất, là khát khao được có nhau, gần nhau. Xa cách về không gian và thời gian chính là duyên cớ để tương tư. Vì thế mà trong bản chất tình cảm, tương tư là một khao khát, một nỗ lực vượt không gian và chiến thắng thời gian [3] . Không gian, thời gian vô cớ trở thành kẻ thù của những tình nhân bị xa cách. Và đây là những kẻ thù nghìn lần đáng ghét. Bởi trong nỗi tương tư, khoảng cách dù là ngắn cũng trở thành diệu vợi, nghìn trùng; một khoảnh khắc cũng thành đằng đẵng, thăm thẳm. Đôi khi chỉ tấc gang cũng thành vực thẳm. Thậm chí, với một tình nhân giàu dự cảm thì dầu chưa xảy ra xa cách, đã khắc khoải tương tư rồi: - Vừa thoáng tiếng còi tàu Lòng đã Nam đã Bắc - Nên cả lúc gần anh Mà lòng em vẫn nhớ (Xuân Quỳnh) * Trong bài thơ của mình, Nguyễn Bính đã nói lên nỗi tương tư nghìn đời của những lứa đôi. Ngay những lời mở đầu đã vẽ ra một nỗi tương tư chan chứa cả cảnh sắc thôn làng: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một người chín nhớ mười mong một người. Chỉ vì có một chàng trai thôn Đoài đang gửi lòng say cô gái thôn Đông mà cuối cùng đã thành thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông. Cách nói bóng gió tạo hiệu quả không ngờ là hai miền không gian đang nhớ nhau. Điều này đâu phải vô cớ. Khi người ta tương tư, cảnh vật xung quanh cũng bị cuốn vào nỗi tương tư, không gian bao quanh cũng ngập tràn nhung nhớ. Người ta có nhìn bằng con mắt khách quan nữa đâu! Cảnh vật nhuốm màu tương tư cả rồi. Câu thứ hai đặc Nguyễn Bính! ấy là giọng kể lể. Một câu thơ được viết toàn bằng số từ! Không gian tương tư thật rõ. Câu bát có xu hướng kéo dài, nó càng dài hơn bởi giọng kể lể và chất đầy những số từ thậm xưng theo lối thành ngữ. Mỗi người đứng ở một đầu câu thơ, thăm thẳm, vời vợi. Giữa họ là một khoảng không diệu vợi. Nỗi tương tư giăng mắc một nhịp cầu "chín nhớ, mười mong", khởi lên từ đầu này và chấp chới, và mơ mòng tới đầu kia. Kế đó là một sự lí giải: Gió mưa là bệnh của giời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. So sánh mình với giời, ngông là thế mà thấy cũng chấp nhận được. Bởi cả hai có cùng một căn bệnh. Tôi và Giời hoá ra là hai kẻ đồng bệnh. Thế mà chưa hết đâu, cái tôi này còn toan tính hạ thấp cả giời trong so sánh đó nữa. "Gió mưa là bệnh của giời", thì bệnh đó là một thứ tật, một thói hư, giời giở chứng ra - một thứ bệnh nội sinh có sẵn! Còn "Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng" thì là căn bệnh mắc phải do "ngoại nhập". Từ ngày yêu nàng, tôi mới mắc bệnh này. Coi tương tư là một thứ "bệnh", mới kể lể được những khổ sở của cái Tôi mang bệnh. Mà bệnh này đã mắc thì... phi em vô phương cứu chữa. Trong câu thơ, thấy có cái giọng chấp nhận một thực tế, một qui luật tất yếu không cưỡng lại nổi. Cái Tôi hiện ra vừa như một tình nhân đắm đuối vừa như một nạn nhân tự nguyện rước bệnh, rước khổ sở vào thân. Có phải khi yêu, lời chân thành nào cũng hoá khôn ngoan thế chăng? Có phải thế là sự khôn ngoan... dễ thương? * Hình như tương tư thường bắt đầu bằng kể lể, giãi bày, và rồi chẳng mấy ai chịu dừng lại ở đó. Sẽ còn là trách móc, hờn giận, sẽ còn là dằn dỗi đơn phương, khát khao đòi hỏi... cũng đơn phương. Nghĩa là bệnh tương tư sẽ mỗi ngày một thêm trầm trọng. Mà "kì" nhất là, cũng một không gian ấy thôi, nhưng khi đã kể lể nỗi khổ của mình - cho mình, thì nó bỗng dài ra vô tận, trái lại, đến khi trách móc, "kể tội đối phương" thì nó lại thu hẹp đến kiệt cùng: Hai thôn chung lại một làng Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này? Mở ra, "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông", tưởng chừng nghìn trùng cách trở. Đến đây, té ra sự cách trở đã hoàn toàn triệt tiêu: tuy hai thôn nhưng thực ra chỉ có một làng. Quái lạ thay là tâm lí tương tư! Khoảng cách có vậy mà khéo co giãn, biến hoá làm sao! Nhưng xem chừng, hay nhất vẫn là sự kể lể về thời gian: Ngày qua ngày lại qua ngày, Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng Ngày trước, tả mối tương tư Kim - Kiều, Nguyễn Du cũng thấy cái nghịch lí trữ tình của thời gian : Sầu đong càng lắc càng đầy Ba thu dọn lại một ngày dài ghê Một ngày thôi mà ngỡ đã ba thu. Thế cũng đã quá ư... trầm trọng! Dầu sao, đó vẫn là nỗi tương tư được nói bằng giọng người trần thuật, ngoài cuộc. Còn lời thơ Nguyễn Bính vẫn nguyên sự sốt ruột, khắc khoải của người trong cuộc, y như lời lẽ của người đang ngồi bóc lịch đếm từng ngày rề rà chậm chạp trôi qua một cách vô tình, thậm chí như cố tình trêu ngươi vậy! "Ngày qua ngày lại qua ngày", câu thơ đi nhịp 3/3, chia thành hai vế, vế này là sự lặp lại của vế kia theo lối trùng điệp. Chữ "lại" chứa đựng một ngán ngẩm. Vừa hi vọng, vừa như thất vọng. Mỗi ngày mới đến nhen lên một hi vọng, để đến cuối ngày, hi vọng tàn đi thành vô vọng. Tất cả gợi được nhịp vận hành lặp đi lặp lại rời rã của những ngày đợi chờ, mong mỏi mà vô vọng vẫn hoàn vô vọng. Câu thứ hai vẽ ra một người nóng lòng chờ đợi cùng cái cây (Nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính thường bộc bạch tâm trạng cùng với một cái cây nào đó. Đây thì chẳng rõ là cây gì. Chỉ biết nó cũng nặng trĩu tương tư! Hay đó là cây tương tư?!). Thời gian với kẻ tương tư chẳng vô hình. Nó có màu: ấy là màu vàng héo. Mỗi ngày qua để lại một dấu vết nhỡn tiền trên vòm lá. Cái cây là một nhân chứng, một cuốn lịch thiên nhiên, một tri kỉ câm lặng, một kẻ đồng nạn - nạn nhân của sự hững hờ của ai kia. Anh đợi em khi cây hãy còn xanh, đến nay cây đã vàng hết cả rồi, vậy mà... Đợi chờ làm cây héo úa, làm người héo hon! Cái cây kia là hình ảnh khác của anh! Cái cây kia chính là anh. Tả cảnh ngụ tình là thế! Phải nói chữ "nhuộm" thật đắt. Cũng viết về sự thay đổi sắc màu trên cây cỏ, khi Thuý Kiều tiễn biệt Thúc Sinh, Nguyễn Du viết: Người lên ngựa kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san Chữ "nhuốm" rất động. Nói được sự biến đổi đang diễn ra, chưa hoàn tất. Nó cũng trực tiếp! Dường như sắc màu này vốn từ cuộc chia li ở câu trên đã hắt sang câu dưới, đã phổ vào cảnh vật nên mới "nhuốm". Nó là sự lây lan từ tinh thần con người xâm nhập vào cây cỏ. Còn chữ "nhuộm" của Nguyễn Bính gợi được thời gian. Bởi xem chừng nó tĩnh hơn. Quá trình diễn biến đã hoàn tất: lá xanh đã biến thành lá vàng rồi! Sắc thái kể lể đậm hơn. Thời gian đợi chờ của anh đằng đẵng, dằng dặc đến nỗi đủ để nhuộm một cây xanh thành hẳn thành cây lá vàng cả rồi! Lời thơ vì thế mà khổ sở, khắc khoải bội phần. * Có phải tương tư là một gánh nặng đơn phương, càng nặng nề bao nhiêu, càng nghĩ "đối phương" vô tình bấy nhiêu. Vì thế mà cung bậc tương tư cứ chuyển biến rất tự nhiên từ kể lể, thở than sang trách móc? Mà lời trách móc thì, ôi chao, đầy một lối "qui kết" khó mà "chạy tội" được: Bảo rằng cách trở đò giang Không sang là chẳng đường sang đã đành Nhưng đây cách một đầu đình Có xa xôi mấy mà tình xa xôi? Vẫn cái "luận điệu" dễ ghét ấy. Kể lể nông nỗi mình thì cũng một sự xa cách kia mà hoá muôn trùng, thăm thẳm. Còn ở đây thì "phủ định sạch trơn": không hề có xa cách - không có cách trở đò giang, không phải không có đường, mà thậm chí còn gần lắm, chỉ có một đầu đình thôi. Tất cả chỉ do em hờ hững chứ chả có lí do khách quan gì! Người đâu có người mỗi lời lại một vận vào người ta thế có "khiếp" không! Nhưng không có luận điệu ấy thì làm sao có thể "qui chụp" người ta vô tình được! Sao những trái tim yêu lại có thể "ranh mãnh" một cách hồn nhiên đến thế! Vậy đấy, trong nỗi tương tư, trái tim thường cất lên những lời buộc tội thật dễ thương. Và khi "người ta" đã nhân danh nỗi khổ vì tương tư, thì nghe những lời buộc tội "khó chịu" đến đâu cũng đành mà "chịu khó" thôi, nghĩa là cũng thật dễ chịu thôi, chẳng phải thế sao? Trách chưa hết đã lại hờn: Tương tư thức mấy đêm rồI Biết cho ai hỏi ai người biết cho? Hờn mát đến điều rồi thì lại khát khao đến độ: Bao giờ bến mới gặp đò Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau Và cuối cùng thì khẳng định đinh ninh: Nhà em có một giàn giầu Nhà anh có một hàng cau liên phòng. Thôn Đoài thì nhớ thôn đông Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? Tất cả đã sẵn sàng và đang nóng lòng chờ đợi. Chỉ còn em nữa thôi! Thôn Đoài đã hẳn là nhớ thôn Đông, điều ấy không còn nghi ngờ bàn cãi nữa rồi. Vậy thì, cau thôn Đoài còn biết nhớ giầu không thôn nào nữa đây. Câu thơ chứa trong nó một lôgic thật ... nguy hiểm! * Vậy là, trong thẳm sâu tâm lí, tương tư chính là khao khát hạnh phúc lứa đôi, khao khát thành đôi thành lứa. Khao khát ấy tràn ra trong giọng điệu khi kể lể phân trần, khi giận hờn trách móc. Khao khát ấy còn kí thác vào những cặp đôi giấu mình suốt dọc bài thơ. Ban đầu những đôi ấy còn xa xôi, càng về sau càng xích lại gần. Lần đầu, 1990, khi viết cho sach Để dạy tốt Văn 11 dành cho giáo viên, tôi mới chỉ nhận ra một nửa số cặp ấy. Giờ thống kê kĩ hơn, mới thấy nhiều cặp đôi hơn ẩn náu khắp bài thơ: Thôn Đoài - Thôn Đông Một người - Một người Tôi - Nàng Bên ấy - Bên này Bến - Đò Hoa Khuê Các - Bướm giang hồ Nhà anh - Nhà em Và cuối cùng là: Trầu - Cau Kết như thế thật khéo! Vòng vo, xa gần, cuối cùng vẫn cứ tụ lại ở điều cần nhất, khắc khoải nhất: ấy là trầu - cau! Mà trầu cau là chuyện nhân duyên. Điểm truyền thống rất nổi bật ở Nguyễn Bính là quan niệm luyến ái. Là một nhà Thơ Mới, nhưng Nguyễn Bính không có cái chủ trương yêu hiện đại với cái tình gần gũi cái tình xa xôi, cái tình trong giây lát, cái tình ngoài thiên thu như điệu sống thời thượng bấy giờ. Các nhà thơ hiện đại chỉ quan tâm đến tình, ít quan tâm đến duyên. Nguyễn Bính quả là chân quê khi coi trọng nhân duyên. Yêu đương với chàng thi sĩ này dứt khoát phải gắn liền với chuyện trăm năm, với hôn nhân. Nghĩa là với Cau - Trầu. Thực ra, những cặp hình ảnh kia vẫn chưa thành đôi hẳn, mà mới chỉ ở dạng tiềm năng, vẫn còn để ngỏ và chờ đợi. Vâng, đợi chờ một vị "cứu tinh" duy nhất là Em. Em đến, trầu cau sẽ thắm lại và tất cả các cặp còn hờ kia sẽ kết thành đôi. Bệnh tương tư sẽ được cứu chữa! Nỗi khổ sở sẽ hết dày vò! vân vân và vân vân... Nhưng em biết không, khi tất cả những điều kia đã thành, thì cũng là lúc nỗi tương tư bắt đầu... bị hoá giải.

31 thg 12, 2012

Nỗi niềm Thị Nở và Cảm nhận của Như Mai


Người ta cứ bảo dở hơi
Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
Dở hơi nào dở hơi gì
Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình

Làng này khối kẻ sợ anh
Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
Sợ anh chửi đổng suốt ngày
Chỉ mình em biết anh say rất hiền

Anh không nhà cửa bạc tiền
Không ưa luồn cúi không yên phận nghèo
Cái tên mơ mộng Chí Phèo
Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao

Quần anh ống thấp ống cao
Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
Khen cho con Tạo khéo tay
Nồi này thì úp vung này chứ sao

Đêm nay trời ở rất cao
Sương thì đãm quá trăng sao lại nhoà
Người ta mặc kệ người ta
Chỉ em rất thật đàn bà với anh

Thôi rồi đắt lắm tiết trinh
Hồn em nhập bát cháo hành nghìn năm.
Tác gỉa bài thơ : QUANG HUY

Bài bình của tác giả NHƯ MAI:

Tôi không biết bài thơ này ra đời từ khi nào, nhưng từ khi tôi bắt gặp nó được đăng trên báo Văn nghệ năm 1992, tôi đã rất thích. Thời bấy giờ, bài thơ được nhiều người chuyền tay nhau và vô cùng thích thú. Nó gần như là một trong số ít những bài thơ mà tác giả đã “dũng cảm” sử dụng “mẫu” trong thơ là một người phụ nữ không có lợi thế về nhan sắc.

Lúc đầu bắt gặp bài thơ này, tôi cứ tưởng đây chỉ là bài thơ gây cười, châm biếm, nhưng càng đọc càng thấy nó hay, nhất là khi tuổi đã lớn, tôi đọc lại và nhận thấy bài thơ có một vẻ đẹp khác. Cái hay, cái đẹp không phải ở cốt truyện mà nhà thơ Quang Huy khai thác là “Chí Phèo” đã quá nổi tiếng của nhà văn Nam Cao, cũng không phải bởi cách gieo vần của bài thơ mà hay ở ý nghĩa nó mang lại cho người đọc. Từ bài thơ ta nhận thấy cái đẹp của một con người không đơn thuần chỉ là hình thức bên ngoài, cái đẹp ấy toát lên nhờ sự tỏa sáng của tâm hồn và trí tuệ, cái đẹp tiềm ẩn bên trong mà chẳng phải ai ai cũng nhìn thấy nó.

Nhạc, họa hay thơ ca, phần lớn đề cập đến cái đẹp nói chung, ca ngợi vẻ đẹp của những người phụ nữ đẹp nói riêng. Từ xa xưa tới nay, đã tốn không ít giấy mực để ca ngợi vẻ đẹp của những người phụ nữ "nghiêng nước, nghiêng thành", nhưng tôi chưa từng được đọc một bài thơ nào viết về một người phụ nữ xấu cho đến khi bắt gặp bài thơ “Nỗi niềm Thị Nở” của Quang Huy. Ông có mạo hiểm quá không khi chọn đề tài viết về một người phụ nữ được xem là “xấu nhất trong những người phụ nữ xấu”?!

Nếu bạn là con trai có thể bạn thích chọn tác phẩm viết về người phụ nữ đẹp để đọc, để xem. Điều đó đâu có gì sai khi vừa thưởng thức nghệ thuật, vừa để trí tưởng tượng của mình bay bổng cùng một “bóng hồng” ẩn hiện trong tác phẩm? Điều ấy tuyệt phải không? Vậy mà Quang Huy chọn con đường khó để đi, để thử sức và may mắn thay, ông đã thành công khi nói về "Nỗi niềm Thị Nở" thông qua việc sử dụng thể thơ dân gian dễ hiểu, dễ nhớ.

Người ta cứ bảo dở hơi
Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
Dở hơi, nào dở hơi gì
Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình

Giá trị của Thị Nở được nhà thơ khai thác triệt để qua sự tự tin, phớt lờ những lời thị phi, vượt qua rào cản “miệng thế”... để được sống là chính mình. Chính điều này đã nâng tầm Thị Nở lên cao hơn giá trị bản thân trong giá trị cộng đồng. Thị Nở không để tâm đến sự “dở hơi” mà thế gian gán cho, bên cạnh đó còn biết tìm ra nét đẹp của riêng mình để tỏa sáng: “Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình”.

Thị Nở và Chí Phèo là hai nhân vật song hành trong tác phẩm của Nam Cao, không thể nhắc đến Thị Nở mà lại không nhớ đến Chí Phèo và ngược lại. Dưới con mắt của người dân làng Vũ Đại ngày ấy thì Thị Nở xấu “ma chê, quỷ hờn”, còn Chí Phèo là kẻ bất lương, suốt ngày say khướt, ăn vạ, chửi đổng…

Làng này khối kẻ sợ anh
Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
Sợ anh chửi đổng suốt ngày
Chỉ mình em biết anh say rất hiền

Thị Nở “xấu đau, xấu đớn” nhưng Chí Phèo không chê. Còn Chí Phèo, cả làng Vũ Đại khối người phải khiếp sợ đấy, nhưng Thị Nở "nhìn" thấu được vẻ đẹp bên trong con người anh ta: “Chỉ mình em biết anh say rất hiền”! – Ôi, đúng là yêu thật rồi! Bao đời nay đều thế cả, khi yêu thì "méo cũng thành tròn", "bồ hòn cũng thành ngọt", cái gì của người mình yêu cũng đều đẹp đẽ, lung linh, tuyệt vời nhất! Ở bài thơ này, Quang Huy đã rất khéo léo khi xây dựng nên một “anh Chí” là người ngay thẳng, không tham bạc tiền nhưng cũng không dễ dàng chấp nhận thân phận mình.

Anh không nhà cửa, bạc tiền
Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo

Chí Phèo - một con người xếp ở đáy của xã hội thời bấy giờ, vậy mà Thị Nở vẫn tìm thấy những nét rất đẹp trong con người anh ta, vẫn thấy anh ta “rất hiền” khi say. Hẳn là anh ta phải có chút gì đó đặc biệt chứ nhỉ?

Người ta thường bảo khi say là lúc sống thật với mình nhất. Phải chăng lúc say Chí Phèo “rất hiền” là bởi lẽ bản chất anh ta vốn lương thiện, hiền lành? Còn cái “đáng sợ” kia chỉ là do “hoàn cảnh” xô đẩy mà thôi? Thị Nở không những thấy Chí Phèo "rất hiền" mà còn thấy anh ta tuy nghèo khổ đấy, nhưng không luồn cúi, cũng không dễ dàng chấp nhận cuộc sống cơ hàn. Thị Nở đã làm được cái điều mà dân làng Vũ Đại ngày ấy không ai làm được, đó là biết “gạn đục khơi trong”, đã nhìn nhận Chí Phèo như là một “chính nhân quân tử”. (Tôi trộm nghĩ, phải chăng cái đẹp của người mình yêu không hoàn toàn tự thân mà vì được yêu mới càng trở nên đẹp đẽ? Và giá như hồi ấy cả làng Vũ Đại cũng đều nhận ra những nét đẹp trong con người Chí Phèo nhỉ? Biết đâu anh ta đã chẳng trở thành kẻ bất lương đến thế và kết cục câu chuyện đã không bi thảm đến vậy! Nhưng chỉ là giá như mà thôi!)

Có lẽ chính vì Thị Nở đã tìm ra những nét đẹp bên trong con người Chí Phèo nên Thị đã “yêu” hắn chăng? Thị yêu hắn chắc không phải từ cái tên "Chí Phèo" chẳng mấy thơ mộng mà bởi sự đồng cảm của số phận? Quả là một tình yêu đẹp, khi biết vượt qua rào cản thị phi, thân phận thấp hèn để chỉ biết yêu, biết sống cho cảm xúc chân thành!

Cái tên thơ mộng Chí Phèo
Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao
Quần anh ống thấp ống cao
Làm em hồn vía nao nao đêm ngày

Khi đã yêu người ta thấy cái gì ở nhau cũng đẹp, đến cái tên “Chí Phèo” cũng trở nên thật “thơ mộng”, đến cái quần “ống thấp, ống cao” cũng làm cho Thị Nở phải “nao nao đêm ngày”!

Thị Nở, một người con gái cút côi sống với bà cô, chẳng mấy khi nhận được lời tử tế từ những người xung quanh ngoài lời răn đe, mắng nhiếc như cơm bữa đã "phải lòng" gã trai mà cả làng Vũ Đại ngày ấy coi là một kẻ đáng sợ. Họ đã tìm đến với nhau là do hoàn cảnh xô đẩy hay số phận run rủi để họ gặp nhau? Hãy nghe Quang Huy giải mã điều ấy nhé:

Khen cho con tạo khéo tay
Nồi này thì úp vung này chứ sao!

Hạnh phúc trong tình yêu là sự hòa hợp tâm hồn và thể xác mà không phân biệt đẳng cấp hay địa vị xã hội. Đó là sự thỏa lòng trong chừng mực mà cả hai cảm nhận được họ đã sống và được sống như trái tim họ mong muốn. Câu thành ngữ “Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo” được nhà thơ vận dụng rất sinh động khi đẩy sự tự tin của Thị Nở lên cao ở hai chữ “chứ sao” một cách vênh váo và đầy mãn nguyện.

Bốn câu tiếp theo được viết ra một cách thanh cao, đặt trong cái đẹp hòa quyện giữa thiên nhiên và con người bằng sự thăng hoa của thi ca:

Đêm nay trời ở rất cao
Sương thì đẫm quá, trăng sao lại nhòa
Người ta... mặc kệ người ta
Chỉ em rất thật đàn bà với anh

Chẳng cần phải nói nhiều về khổ thơ này nữa, tự thân nó cùng với trí tưởng tượng của mỗi người sẽ là một đêm thật đáng để nhớ trong đời.

Bài thơ khép lại bằng hai câu thiên về tự biện, trong khi cả bài thơ đều dồi dào sức sống mãnh liệt và tràn trề cảm xúc dâng trào.

Thôi rồi đắt lắm tiết trinh
Hồn em nhập bát cháo hành nghìn năm

Có lẽ phải thương xót lắm những con người dưới đáy của xã hội bấy giờ thì nhà thơ Quang Huy mới có thể viết bài thơ giàu tính nhân văn đến thế! Hạnh phúc trong tình yêu không chỉ đến với những người giàu sang, phú quý hay những người sở hữu nét đẹp trời cho. Tính nhân văn của bài thơ được thể hiện rõ nét ở chỗ ông đã để nhân vật trong thơ ông được hạnh phúc thực sự trong tình yêu, qua sự cảm thông, chia sẻ và hơn cả là biết nhận ra giá trị đích thực ở nhau. Tôi thiết nghĩ, con người vốn sinh ra đã không hoàn hảo, thế nên để đi tìm một nửa hoàn hảo của mình là điều không dễ. Nhưng chắc hẳn giữa dòng đời tấp nập vẫn có một ai đó dành riêng cho mình, phù hợp với mình nhất, người đó không phải là người đặc biệt nhất với mọi người mà điều quan trọng hơn cả là người đó rất đặc biệt với riêng ta.

Như Mai, 31/10/2012







Chí Phèo - Thị Nở (Ảnh chụp tại Indochina Riverside Đà Nẵng)

http://nhumaidn266.blogspot.com/2013/07/noi-niem-thi-no-cam-nhan.html


20 thg 12, 2012

Bình bài thơ "Chợ chiều Tân Phú" của Vũ Thiện Khái


(Mộc Lan Hoa )


Chợ chiều Tân Phú
 (Tân châu) 
Chợ Chiều chẳng phải ế chiều
Giản đơn chợ họp về chiều vậy thôi
Đừng lo rau héo cá ôi
Không mua cũng bán nụ cười cho nhau


Tại người liếc mắt dao cau
Ta ly chưa cụng đã đau chén tình
Rượu quê chính nếp làng mình
Ai đi chẳng đặng chùng chình đợi ai ?

Hàng gà ngồi lẫn hàng khoai
Rổ ếch giẩu mỏ nguýt dài giỏ cua
Chợ chiều chóng vánh bán mua
Lao xao cho kịp đêm vừa lén buông

VTK    3/12/2012
*********************** 

Tôi có đọc một vài bài thơ của tác giả Vũ Thiện Khái , nhận xét chung của tôi là ông viết thơ bằng ngôn từ giản dị để ẩn trong đó một tình thơ nhẹ nhàng mà đầy lòng cảm thấu . Chợ Chiều là một trong những bài thơ tôi cho là rất “khéo” của ông . Chính vì vậy mà tôi thử dừng chân để “ngắm nghía” cái tình ông gửi vào Chợ Chiều .

Chợ Chiều chẳng phải ế chiều

Giản đơn chợ họp về chiều vậy thôi

Đừng lo rau héo cá ôi
Không mua cũng bán nụ cười cho nhau


“Chợ Chiều chẳng phải ế  chiều /  Giản đơn chợ họp về chiều vậy thôi”. 
Chợ chiều chẳng phải là hàng hóa bán ế của chợ sáng mà hình thành nên chợ chiều . Vâng , chợ chiều là để cho những người vì điều kiện , hoàn cảnh nào đó không thể tham dự buổi chợ sáng gặp nhau . Hết sức giản đơn nhưng cũng hết sức cô đọng với 2 câu mở đề này cho Chợ Chiều của Nhà thơ Vũ Thiện Khái .

Thế nhưng không hiểu sao khi đọc 2 câu thơ này thì bài hát “Chị Tôi” của Ns Trần Tiến cứ vang vẳng trong tôi .

Nhà tôi trên bến sông có chiếc cầu nhỏ cong cong.

Hàng cau trong nắng trong lá trầu không.

Chị tôi trông dễ thương bán rau chợ Cầu Đông ...
Chị tôi chưa lấy chồng.


Thời con gái lưng ong có bao người hằng mong theo.
Mẹ giục con gái yêu lấy chồng đi.
Chị thương hai đứa em, thương mẹ già buồn đau ....
Chị tôi chưa lấy chồng.


Và cứ thế , cứ thế để một ngày:

Nhiều năm xa cánh xa, tôi trở về làng quê thăm.

Nhìn hàng cau xác xơ lá trầu khô.

Mộ chị tôi bé xinh đứng bên cầu lẻ loi.
Mộ người chưa có chồng.
(Lời bài hát Chị Tôi của nhạc sĩ Trần Tiến)


Tôi có quen biết vài người bạn (chị) có tâm cảnh tựa  như bài hát của Trần Tiến . Có lẽ vì thế mà tôi chẳng thú vị gì khi có ai hát bài hát Chị Tôi của ông trong 1 khung cảnh xô bồ , ồn ào . Chị Tôi , một thân phận buồn nhưng xứng đáng được kính trọng… Một mảnh đời đáng được chia sẻ trong niềm trân trọng .

… Và “Chợ chiều chẳng phải ế chiều” … Tôi đoán rằng tác giả VTK đang viết cho một thân phận . Những người phụ nữ trở thành “gái già” đều vì hoàn cảnh rất riêng . Có khi vì một lời thệ ước , có khi vì gia cảnh , cũng có khi chỉ đơn giản là chữ “duyên” chưa định . Nhưng vấn đề đáng nói ở đây là hình ảnh “chợ” . Ta sẽ tìm lời đáp cho hình ảnh “chợ” qua những khổ thơ tiếp theo .

Đừng lo rau héo cá ôi
Không mua cũng bán nụ cười cho nhau


Vâng , đã chẳng phải “ế” thì cớ gì phải lo “rau héo - cá ôi” . Có những phụ nữ luống “chiều” vẫn nhan sắc , vẫn đức hạnh . Tôi cho rằng tác giả dùng hình ảnh này thật tuyệt qua hình ảnh ẩn dụ qua hình ảnh “rau héo , cá ôi” để hoán dụ về nhan sắc và đức hạnh của những người trong cảnh “chợ chiều” này
”Không mua cũng bán nụ cười cho nhau” 
. Theo tôi đây là một câu mang đậm tính “nhân văn” . Khi đi chợ , được chào mời mua hàng , dù không mua ta cũng nên đáp lại bằng một nụ cười từ chối , chỉ đơn giản vậy thôi mà người bán thấy cũng ấm lòng . Vậy nên với người phụ nữ luống “chiều” như tôi đã đề cập ngay từ đầu bài viết thì câu này là cả một sự chia sẻ cảm thông . Tôi cho rằng qua câu thơ này , nhà thơ VTK đã kín đáo trách những lời gièm pha thiếu tôn trọng người phụ nữ trong cảnh “chợ chiều”.

Dù bạn có là người phụ nữ may mắn đã và đang được cái hạnh phúc đủ đôi đủ đũa ; dù cho bạn không thể là người đàn ông có đủ điều kiện hay tình cảm để chia sẻ sâu sắc cùng người phụ nữ ấy thì cũng xin hãy biết trân trọng , cảm thông bằng ánh nhìn , bằng nụ cười sẻ chia ấm áp . Không hiểu sao tôi lặng đi một chút với cảm xúc bùi ngùi khi đọc hết khổ thơ này . Những ngôn từ thật giản đơn , mộc mạc của tác giả đã chạm vào trái tim tôi . Tôi từng muốn viết gì một điều đó cho người bạn , người chị quen biết của tôi để chia sẻ tâm tình sâu kín của họ nhưng tôi chưa làm được , và tôi hết sức vui mừng , trân trọng bài thơ Chợ Chiều của Nhà thơ Vũ Thiện Khái đã nói hộ giùm tôi. Có lẽ vì vậy mà tôi đồng cảm cùng Chợ Chiều của tác giả VTK .
Trong khổ thơ trên có phải tôi đã chủ quan khi đưa hình ảnh người phụ nữ “luống chiều” vào thơ của tác giả VTK hay không ?  Có lẽ đúng như vậy , mà cũng có lẽ không nên tôi xin đi vào khổ thơ tiếp theo để dễ nhận ra hơn .

Tại người liếc mắt dao cau

Ta ly chưa cụng đã đau chén tình
Rượu quê chính nếp làng mình
Ai đi chẳng đặng chùng chình đợi ai ?

Ôi ! Khổ thơ này tác giả đã bộc bạch hẳn tình cảm của mình với một người phụ nữ . Chữ “ta” cho tôi nhận ra chính tác giả đã xuyến xao với đôi mắt liếc dao cau , chếnh choáng với men tình nồng ngọt như “rượu quê chính nếp” cho nên tự hỏi “Ai đi chẳng đặng chùng chình đợi ai ?

Cũng vì tình cảm đã trao ,“cầm lòng chẳng đặng” nên tác giả lại chia sẻ sâu sắc hơn trong khổ thơ cuối cùng

Hàng gà ngồi lẫn hàng khoai
Rổ ếch giẩu mỏ nguýt dài giỏ cua

Chợ chiều chóng vánh bán mua
Lao xao cho kịp đêm vừa lén buông

Đây là một sự chia sẻ , một sự vỗ về an ủi . Hàng gà ngồi lẫn hàng khoai / Rổ ếch giẩu mỏ nguýt dài giỏ cua .Như từ đầu bài viết tôi đã có nói . Mỗi người một hoàn cảnh , điều kiện rất riêng để đường đời đưa tới phận “gái già” . Điều này tác giả đã thấu cảm với nữ giới nên mới chia sẻ qua hình ảnh “Hàng gà ngồi lẫn hàng khoai” . Vâng , đã đến tuổi này , người phụ nữ dù có vị trí cao hay thấp trong xã hội , sang hay hèn đều có chung những khát vọng và họ cũng đều chịu những “tiếng đời” như nhau . Cũng không ít điều tiếng từ những người cùng là phụ nữ nhưng lại không thiện ý với nhau để “Rổ ếch giẩu mỏ nguýt dài giỏ cua”.

Tác giả đã vừa như chia sẻ , vừa như an ủi và rất cảm thông cùng người phụ nữ “chợ chiều” qua 2 câu kết .

Chợ chiều chóng vánh bán mua

Lao xao cho kịp đêm vừa lén buông


Vâng , đã chiều rồi , mua bán lao xao một chút chứ không so đo kèn cựa nhiều nữa . Không bán được thì qua đêm là vãn chợ .

Câu thơ cuối cùng trong bài “Lao xao cho kịp đêm vừa lén buông” làm tôi vừa chạnh lòng mà lại vừa thú vị cho cách dùng chữ biểu đạt của Nhà thơ VTK . Người ta thường ví nét đẹp của phụ nữ ở tuổi 50 là cái đẹp “chín muồi” , và tôi cho rằng “chín muồi” thật . Vậy nên nó chỉ có còn tươi tắn trong một thời gian rất ngắn ngủi nữa thôi . “Lao xao cho kịp đêm vừa lén buông” , tác giả dùng từ “lao xao” theo tôi là rất đắt , và rồi ông lại cho màn đêm “lén buông”  thì lại thêm đắt . Một câu thơ mà dùng đến hai từ vừa ví von , vừa tế nhị mà cũng vừa đậm chất tự tình như vậy thiệt là hết sức thú vị .

Cũng là phụ nữ và cũng đang ở tuổi về “chiều” , tôi khá ngần ngại khi phân tích từ “lao xao” của tác giả . Nhưng thôi , tôi xin được phép phân tích nó theo cái nhìn khoa học , vì nếu không nói rõ từ này tôi cho rằng tôi đã uổng công viết bài bình này .

Chính từ ”lao xao” này mà xuyên suốt bài thơ tác giả không hề xa rời cảnh “chợ”, và cũng chính từ “lao xao” này tác giả đã đi sâu vào tâm tư , hay nói chính xác hơn theo khoa học là “tâm sinh lý” của người phụ nữ ở tuổi “chớm chiều” . Cái sự “lao xao” ấy phải chăng là những cảm xúc thanh xuân trổi về trong niềm mong muốn yêu và được yêu , cái mong muốn từ nhu cầu được sống một cách bình thường nhất của một con người đích thực sau những hy sinh , ràng buộc mà mình từng trả qua . Cái sự lao xao ấy có phải được thể hiện qua những giận hờn vu vơ như thuở dậy thì , những cái đỏ mặt thẹn thùa ..v..v và v..v…

“Lao xao cho kịp đêm vừa lén buông” câu thơ dường như đắt đến từng con chữ . Tác giả như là nhắn nhủ , như là nhắc nhở , như là hối thúc  “lao xao cho kịp”… Vâng , chỉ là chút ráng vàng trong chiều đầy gió và đêm chẳng mấy chốc sẽ buông rồi kia . Hãy kịp cho những khát vọng của mình , hạnh phúc của đời mình . Tác giả dùng từ “lén” thật ý nhị . Ở độ tuổi này rồi , chắc hẳn chẳng ai muốn phô trương đình đám nữa , từ “lén” ở đây phải chăng nhằm khuyên người phụ nữ ấy hãy đón nhận lấy hạnh phúc của riêng mình , tránh xa miệng lưỡi nhân thế . Tôi cho rằng “Đêm vừa lén buông” vừa mang ý khuyên nhủ đầy tế nhị mà cũng đầy tính tự tình khi “lén” được nằm trong câu “… đêm vừa lén buông” .

Đây là bài thơ mà tác giả mượn hình ảnh “Chợ Chiều” để giải bày suy tư , sự thấu cảm và chia sẻ với người phụ nữ trong thân phận “gái già” . Vậy thì hình ảnh cái “chợ” chính là nói lên tâm tư tình cảm của những người phụ nữ ấy . Dù là tuổi đã luống nhưng vẫn ao ước một tình yêu như bao nhiêu con người trên thế gian này, vẫn mong mỏi có một bờ vai đủ ấm , đủ tin để tựa khi trái gió trở trời , vẫn khát khao một mái ấm gia đình . Vậy thì tìm kiếm điều đó nơi đâu nếu không phải giữa “chợ đời” này ?

ooo 0 ooo


Một bài thơ không dài , với ngôn từ bình dị đến mộc mạc , hình ảnh rất đời thường  nhưng tác giả Vũ Thiện Khái đã khéo léo gửi gắm niềm cảm thông sâu sắc , sự chia sẻ cùng những thân phận “gái già” . Tác giả đã có cái nhìn nhân văn , sự đánh giá cao về cả nhan sắc lẫn đức hạnh của những người phụ nữ “chợ chiều” như vậy .

Đâu đó trong cuộc sống này vẫn có rất nhiều thân phận phụ nữ đáng được trân trọng như thế . Nhất là ở thời chiến tranh và khi đất nước còn quá nghèo . Trong một gia đình đông con ở VN , người chị cả vẫn thường chịu nhiều thiệt thòi mà tình nguyện làm thân phận “gái già” . Một góa phụ đành chịu hy sinh tuổi xuân của mình để nuôi nấng , để trọn vẹn với đứa con vắng cha…
Qua bài thơ này , qua cái tình của tác giả Vũ Thiện Khái trong Chợ Chiều khiến ta mở lòng hơn với họ , với những “Chị Tôi” như trong nhạc phẩm của Ns Trần Tiến .
13/12/2012
Mộc Lan Hoa
(Nguồn) Categories: Bấm vào đây =>  Bình Thơ